Translate

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

TÁO BẠO TUỔI 14 (Hồi ký)



Đi lấy củi bằng thuyền là một công việc thường xuyên của quê tôi. Củi cần để đun bếp, hoặc làm nhà, làm chuồng bò, chuồng lơn, rào vườn, làm giàn bầu bí... Sau năm 1957 hai anh tôi đều đã ra Hà Nội. Ở nhà chỉ có tôi, mới 14 tuổi, em Hinh 9 tuổi và mẹ dì. Lúc này những việc lớn trong nhà tôi phải đảm nhận. Thông thường việc thuê thuyền đi lấy củi chỉ có người lớn, có kinh nghiệm, mới dám đảm nhận. Hầu hết mọi người, kể cả những ông tráng niên cũng phải đến xin đi nhờ. Còn bé, và chưa biết chèo lái thuyền, nhưng tôi quyết phá luật lệ này.
Việc đầu tiên là tập chèo lái. Tôi thường ra bến sông, thấy thuyền nào bỏ không là nhảy lên tập chèo. Nhiều hôm nhổ hẳn cọc neo thuyền, chèo ra giữa sông. Có lần suýt toi mạng, vì thuyền bị gió tạt không vào được, phải gọi nhờ người đi thuyền qua chèo vào bờ cho. Không nản chí, tôi lại ra tập tiếp. Khoảng bốn năm ngày sau tôi thấy đã vững tay lái. Tự tin vào mình, tôi thuê một chiếc thuyền, hẹn bọn trẻ con trong xóm, cùng lứa tuổi: Lợi, Biền, Diệu... cùng đi chặt củi. Từ nhà vào rừng lấy củi khoảng hơn mười cây số đường sông. Sông Gianh rộng, thường có gió to. Trước đây đã có nhiều trường hợp chìm đò, người chết. Có một lần chuyến đò lấy củi của anh Sinh tôi cũng đã bị chìm, một người chết. Biết vậy nên lúc đầu chúng tôi hơi run. Rất may là chuyến đầu tiên không gặp trở ngại nào. Chúng tôi rất phấn khởi. Bà con trong xóm ai cũng khen. Sau đó một tuần chúng tôi lại thuê thuyền đi tiếp, và lại trở về an toàn. Cứ thế hết chuyến này đến chuyến khác tôi tự thuê thuyền tự chèo lái. Củi chặt về la liêt cả nhà mà chưa hề gặp phải rủi ro nào.
Duy có một lần, chúng tôi vào chặt củi trước, sau đó mới về thuê thuyền đi chở. Nhưng rủi thay, khi chèo thuyền vào thì củi đã bị mất trộm hết.  Tôi và Nguyễn Văn Diệu chèo thuyền về, còn các bạn khác đi đường bộ. Tôi và Diệu chèo thuyền đến một cái cồn gần chợ Mới, thấy trên đó có rất nhiều dưa. Hai anh em cho thuyền cập bến lên hái vài quả ăn cho đở khát. Vừa hái xong dưa, nhìn ra thuyền. Ôi thôi, thuyền đã trôi ra giữa dòng vì quên cắm sào neo thuyền. Thế là hai anh em quẳng cả dưa để bơi ra lấy thuyền. Nước chảy xiết thuyền trôi nhanh, chúng tôi phải đi quá một quảng mới bơi ra đón thuyền.
Diệu sau này làm công tác đoàn trên tỉnh. Năm 1965 phụ trách thanh niên xung phong, hy sinh trên đường Trường Sơn

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

VĂN NGHỆ DU KÍCH (Hồi ký)



Hồi đó tổ chức dân quân du kích xem như xương sống các hoạt động tinh thần của xóm làng. Trong ban chỉ huy du kích có chú Nguyễn Trọng Mai, Cháu Khuyển... Một hôm du kích họp tổng kết công tác rồi diễn văn nghệ. Đặc biệt là kịch, vì kịch dễ diễn, không cần dàn dựng, nói đại khái thế rồi diễn viên lên sân khấu làm. Nội dung kịch muôn thưở giống nhau: Cảnh 1 – Báo động, kẻng gõ phèng phèng, đu kích chạy lố nhố còi huýt inh ỏi, đồng chí A đâu, có, tuân lệnh.... Cảnh 2 - Tây đi lùng bắn súng đì đùng, bắn súng thật hẳn hoi. Cảnh 3 – Du kích giật mìn, bên Tây thằng chết, thằng sống, du kích xông ra, Tây đầu hàng, du kích trói, giải đi. Hạ màn. Khán giả vổ tay rào rào. Đơn giản thế thôi chứ bọn tôi thích đi xem lắm. Ai cũng thích xem. Cứ thấy ta thắng Tây là sướng rồi, chương trình kéo đến gà gáy vẫn xem.
Cháu Trường đóng kịch
Một hôm diễn biến vở kịch không như mong đợi. Diễn viên đóng du kích thường là gầy yếu. Người đóng tây phải to béo mới giống Tây. Anh cháu Trường to béo nhất hội, thường xuyên đóng Tây. Đóng Tây, là làm theo lệnh thôi, chứ tâm lý anh Trường không thích. Lần đó anh xin được đóng du kích. Ban chỉ huy không cho. Anh phải đóng Tây, lên sân khấu với tâm trạng bực bội. Diễn viên đóng du kích là anh Nguyễn Hữu Du còm nhom và anh Mới Khiên cao lêu nghêu, chân như ống que xoi điếu.
Tây thắng ta:
Kịch bắt đầu. cảnh 2 tây đi lùng, anh Trường lên bắn súng đì dùng, bắn súng thật, chỉ thiên, nghe điếc cả tai. Bỗng nhiên mìn nổ. Tiếng nổ thì làm giả, đập vào vật gì đó. Còn khói thì thật, do đốt thuốc súng.  Cảnh 3 – du kích xông lên. Nhưng lần này “Tây” không đầu hàng. Du kích bảo giơ tay lên, anh Cháu Trường không giơ. Du kích túm tay để trói, anh Trường chống cự. Bỗng nhiên anh quật hai anh đóng du kích ngã sóng soài. Cả hai anh du kích bị “Tây” đè bẹp dí , không làm sao vùng dậy được. Khán giả la hét. Ba bốn ông chỉ huy cuống cuồng, thổi còi inh ỏi, chạy lên sân khấu, hợp sức với hai ông du kích mới lật được anh Trường ra. Anh Trường hết cơn nư rồi, đứng dậy, ra khỏi sân khấu. Ông chỉ huy bắt đứng nghiêm, huấn thị. Anh Trường mặt còn bừng bừng nói: Ai bảo không cho tôi đóng du kích.
Từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ được xem một chuyện nào nói Tây thắng ta, từ sách báo đến phim ảnh, kịch... Sau này lớn lên, đi học cũng thế. Chỉ được nghe ta thắng Tây, hoặc sắp thắng. Còn Tây và tư bản đang rẩy chết, sắp chết hết. Nghe sướng lắm, ai cũng thích nói thế, ai cũng thích nghe thế, cả xã hội thích thế. Ai nói ngược lại là phản động, lý lịch có vấn đề... Xem phim Trung Quốc là sướng nhât. Kết thúc phim bao quân nó cũng chết hết, hoặc chỉ còn vài tên xin đâu hàng. Còn quân ta, chỉ bị thương sơ sơ.  Vở kịch anh Trường là vở kịch lịch sử. Lần đâu và cũng là lần duy nhất tôi được xem. Sướng quá.

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

KIẾN THỨC SINH HỌC (Hồi ký)



Đi Ninh Bình ra, đến bến xe Giáp Bát xuống, tôi lên một cái ô tô buyt về Hà Đông. Vắng người, tôi ngồi ngay ghế đầu của dẫy dành cho khách. Xe chuẩn bị chạy, chú bán vé xe buýt đến gần tôi nói: Mời bác xuống dưới kia ngồi cho an toàn. Tôi nói ngồi đây an toàn hơn. Chú ấy đề nghị mấy lần nữa nhưng tôi không đổi chỗ. Mấy ông lái xe thường hay dành chỗ phía trước cho người tr ngồi, để còn nói chuyện. Tôi biết mánh đó rồi.

 Chú bán vé bực bội đến bên cạnh chú lái xe nói gì đó, rồi cả hai cùng bật ra cái câu đầu lưỡi : Đ...mẹ lão già.

Tôi bình tĩnh, đến cạnh hai chú nói: Hai chú nói gì tôi nghe hết rồi. Việc này là giữa tôi và chú, chứ đụng đến mẹ tôi là tôi không chịu. Nhưng thôi, tôi chỉ nói về chuyện học hành của hai chú thôi. Theo tôi kiến thức sinh học của hai chú là zero. Thầy nào dạy hai chú?.  Các chú nên về ôn lại kiến thức sinh học đi. Nói xong tôi về chỗ ngồi. Hai chú xe buýt liếc nhìn tôi rồi nhìn nhau cười.

Không biết trong chương trình phổ thông có dạy môn này không?

BÀI THƠ PHỚT LỜ (Hồi ký)



Năm 1970 – 1976, ở viện Khoa học kỷ thuật Nông nghiêp có anh Thanh Cảnh hay làm thơ. Anh thường làm thơ tức cảnh, văn nghệ cho vui. Dạo đó trong viện này có anh Trần Quang Thuyết, đang nghiên cứu sản xuất bèo dâu để bón cho lúa. Một đề tài rất hay. Ông Bùi Huy Đáp thường đến thăm phòng anh. Sau đó anh Thuyết lại nghiên cứu cây cốt khí, một loại cây cải tạo đất vùng đồi, vừa là phân xanh, vừa chống xói mòn. Đang làm bèo dâu, nay lại lên đồi làm cốt khí, anh Thuyết được anh Cảnh tặng ngay một bài thơ:


Năm xưa anh Thuyết lộn bèo

Năm nay anh Thuyết lại leo lên đồi

Anh đi cả viện bồi hồi

Sợ rằng anh lại lộn đồi về không.

 Anh Thuyết nghe xong nói: Thế nào tao cũng cho mày một trận. Nói thế thôi chứ chẳng thấy trận nào cả, hai ông lại rít thuốc lào với nhau suốt ngoài quán bà Béo.

Viện Khoa học kỷ thuật nông nghiệp lúc đó có anh Hoàng, phó tiến sỹ, mới về nước. Cũng là dân văn vẻ, lá lay ra phết. Vợ chồng anh cùng ở trong khu tập thể với chúng tôi. Ông Hoàng có chuyện léng phéng gì hay sao mà, đang đêm bà vợ la ầm lên. Sợ hàng xóm biết chuyện, anh Hoàng vội quỳ trước mặt vợ: Lạy em, đừng làm ầm lên.

Hồi đó các phòng ở tập thể ngăn cách nhau bằng cót. Vợ chồng ngủ với nhau, ban đêm không dám quậy, sợ hàng xóm nghi làm chuyện chi “bất chính”. Vì thế, chuyện của anh Hoàng chẳng giấu được ai. Sáng hôm sau anh Cảnh có ngay tác phẩm mới:

 Ngày xưa lạy phật lạy trời

Ngày nay lạy vợ, chuyện đời lai hy.

Có cô Hằng, mới về viện, cũng bị anh Cảnh làm thơ. Cô Hằng đang trẻ, xinh, mới ở Liên xô về. Bơ sữa vẫn còn dính da nên trắng trẻo, hấp dẫn lắm, đến bữa ăn ai cũng ngó. Cô Hằng nghiên cứu đề tài chống nẩy mầm ở khoai tây. Anh Cảnh có thơ tặng người đẹp:

          Trông ngoài bì bạch trắng ngần

          Khoai tây thì đã mọc mầm còn đâu

Anh Cảnh còn có thơ cho cô Quy, cũng hay không kém bài trên đây. Cô Quy học đại học Tổng hợp mới ra trường, về công tác cùng anh Đài, cùng nghiên cứu về vi sinh vật. Anh Đài khoe với mọi người đã tìm được vi sinh tổng hợp “bê đui”, tức là vi ta min B12. Anh Cảnh có ngay thơ tặng anh Đài:

          Anh Đài tổng hợp bê đui

          Đến khi mất điện, bê đùi cô Quy.

Cứ thế, hầu như hôm nào anh Cảnh cũng có thơ cho một ai đó. Nghe thơ, bọn con trai thì cười xòa, còn đám chị em thì không hào hứng lắm. Chị Ngọc Anh, làm ở thư viện, nghe chị em bàn tán chuyện làm thơ của anh Cảnh, đã nghĩ ra được một bài...

         Một hôm, giữa buổi ăn cơm ở bếp tập thể, anh Cảnh đang đọc thơ, nói cười vui vẻ. Chị Ngọc Anh nói: Cảnh có thích mình họa lại không. Anh cảnh nói ngay: Rất hân hạnh. Chị Ngọc Anh đọc luôn:

 Đồn rằng anh Cảnh hay thơ

          Chị em ta cứ phớt lờ như không.

 Anh Cảnh đỏ mặt, chẳng nói gì. Từ đấy dân trong viện ít được nghe thơ của anh.

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

ÔN NGHÈO NHỚ KHỔ (Hồi ký)



Khoảng năm 1965 - 67 có chiến dịch “ôn nghèo nhớ khổ”. Khoa Hóa chúng tôi cũng phải thực hiện. Sau khi chuẩn bị, khoa tổ chức ôn nghèo nhớ khổ vào một buổi tối. Bọn trong lớp chẳng thằng con nào thích làm chuyện này. Bà Bùi Thị An, lớp trưởng (nay là đại biểu quốc hội) vận động mãi, hình như cũng có một vài đứa phải lên nói. Toàn nói linh tinh, có khổ gì đâu. Lớp tôi thi đại học năm 1964, năm đó thi cực khó, nhất là vào đại học Tổng Hợp. Ví d, lớp 10 cấp 3 của tôi ở Quảng Bình, chỉ có hai đứa đỗ đại học. Tôi đỗ vào khoa toán đại học Tổng hợp, còn anh Phan Đình Trân đỗ vào đại học Kinh Tế. Vì thế, lớp tôi ở đại học toàn con em những gia đình “có chữ”, lấy đâu ra nghèo, ra khổ mà nói. Cuối cùng bà An thấy tôi ăn nói được, bắt cóc lên “ôn nghèo nhớ khổ”. Tôi nể quá, phải lên thôi. Tôi lái câu chuyện sang vấn đề “độc lập tự do”, kể về những gian khổ của gia đình thời bị Pháp chiếm, phải chạy giặc, lo sợ khi Pháp đi càn.... Tôi nói xong mọi người cũng vỗ tay.

Tiết mục đáng chú ý nhất hôm đó là bài “ông nghèo nhớ khổ” của thầy Ngụy Như Kon Tum. Thầy Kon Tum lúc đó là hiệu trưởng trường tôi. Thầy nói ngày xưa thầy khổ lắm. Cái khổ thứ nhất là không có trường trong nước để học “phải sang Pháp học”. Cái khổ thứ hai là, khi bạn bè nước ngoài hỏi “where are you from” thì trả lời là Japanese, không dám nói  nói Vietnamese, sợ người ta khinh.

Bây giờ ở Khu Nhân Chính, trước mặt Làng Sinh Viên, có một con đường mang tên thầy Ngụy Như Kon Tum. Mỗi lần đi qua con đường này, tôi lại nhớ đến câu chuyện “nghèo khổ” của thầy năm nào ở xóm Bậu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

VÀO TÂY NGUYÊN LẦN THỨ HAI (Hồi ký)



Dạo đó tôi đang công tác ở Tổng Cục Xây Dựng kinh tế của quân đội. Đầu năm 1979 tôi lại được cử đi công tác, đến một đơn vị bộ đội ở Krong Pak. Đơn vị này ở sâu trong rừng, từ đường quốc lộ 26 phải đi 10 cây số mới tới. Nhiệm vụ được giao là nghiên cứu tình hình sản xuất và chế biến sắn. Cùng đi có anh Cử, lái xe tải chở 4 phuy xăng vào cho đơn vị đó.

Từ Hà Nội, chúng tôi xuất phát vào buổi sáng, chạy một mạch đến Tuy Hòa, nghỉ lại đấy vài tiếng rồi chuẩn bị đi tiếp. Khoảng hai giờ chiều hai đứa lên xe, theo đường 26, vượt đèo Phượng Hoàng hướng về phía Bôn Mê Thuột. Khi đến chỗ rẽ vào đơn vị thì trời đã tối. Đường vắng, đêm sập xuống, lại vào đường rừng. Trước đấy chúng tôi đã nghe tin, trên quảng đường này, bọn Phun Rô đã tập kích giết người cướp của mấy lần. Lệnh ở trên phải chuyển xăng gấp vào đơn vị, chúng tôi không dám nán lại ngoài đường 26. Quân lệnh như sơn, không thể không chấp hành. Tôi và anh Cử bàn bạc với nhau một chốc rồi quyết định vượt quảng đường nguy hiểm này. Hai anh em lấy cành cây buộc thêm hai bên thành xe, để đánh lừa. Tôi cầm khẩu AK ngồi trên thùng xe quan sát sau trước. Anh Cử rú ga phóng đi. Đường rất kho đi, trâu ổ voi đầy đường. Thỉnh thoảng anh Cử ngoái lại nhìn tôi phía sau, sợ tôi “có vấn đề”.  Rất may là chúng tôi vào đến đơn vị an toàn. Khi đến nơi các anh em ở đấy kể hôm qua bọn Phun Rô vừa tập kích một xe, nghe tiếng súng đơn vị ở đây tức tốc tiếp ứng, bọn Phun Rô bỏ chạy.
Sau khi giao hàng cho đơn vị và trao đổi tình hình chế biến sắn ở đấy, chúng tôi lại nhận được lệnh từ Hà Nội gửi vào: Phải ra ngay tức tốc, Trung Quốc đang đánh vào biên giới lạng Sơn

CHUYỆN ÔNG HÀM (Hồi ký)



Cạnh nhà tôi có ông tên là Hàm. Trước đây ông là cán bộ nằm vùng ở miền Nam. Sau khi tập kết lấy vợ miền Bắc. Ông làm việc ở ban tổ chức gì đó ở trung ương. Hồi đó thường hay có sự kiện một số người bị khám nhà, bị tịch thu tài sản. Một hôm có sự kiện: Một ông thuyền trưởng biển nào đó, bị khám nhà, tịch thu tài sản. Anh em trong tập thể bàn luận, mỗi người mỗi quan điểm. Ông Hàm trước sau như một, không hề thay đổi quan điểm. Ông nói “Lý lịch hắn có vấn đề”. Hồi đó, người nào bị áp đặt câu này thì xem như đời đi đứt.
Hôm sau lại có sự kiện một ông Vua lốp, giải quyết được một khó khăn cho xã hội lúc đó, cũng bị khám nhà, bị đóng cửa xưởng sản xuất. Anh em trong tập thể bàn tán. Ông Hàm nói: “Hắn không chịu tiếp thu sự giáo dục của đảng”. Ông Hàm lớn tuổi, lại làm trên trung ương nên anh em không muốn tranh luận, sợ ông lại báo cáo với địa phương là “lý lich có vấn đề” hoặc “không chịu tiếp thu sự giáo dục của đảng” ngại lắm.