Translate

Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2013

NĂM RẮN, NÓI CHUYỆN THƠ NGỤ NGÔN "RẮN"



Về nguồn gốc bài thơ “Rắn”, có giai thoại kể:
Ông Vũ Công Trấn và Lê Phú Thứ  (cha Lê Quý Đôn) là bạn cùng đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn 1724. Nhân hôm đến thăm bạn, Tiến sỹ Trấn ra đầu đề  “ Rắn đầu biếng học” để thử con bạn. Ít phút sau Lê Quý Đôn đọc ngay bài thơ “Rắn”:
 Chẳng phải lìu điu vẫn giống nhà
Rắn đầu biếng học ắt không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen trò lếu láo
Lằn lưng chẳng phải vết roi da
Từ nay  trâu lỗ  xin siêng học
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.
Chú thích:
- Liu điu: Rắn có nọc độc sống ở ao hồ, ăn ếch nhái
- Hổ lửa: Rắn độc có khoang, màu đỏ như lửa
- Mai gầm: Rắn cạp nong, có nọc độc, thân có nhiều khoang đen, vàng xen kẻ nhau. Có loại rắn nữa gọi là cạp nia – thân có nhiều khoang đen trắng, nhưng bé hơn cạp nong.
- Rắn ráo: Rắn nhỏ, sống trên cây, săn bắt chuột.
- Lằn: Tức là thằn lằn, một loại bò sát gần với rắn, có bốn chân, thân có vẩu, sống ở bờ bui, ăn sâu bọ.
- Trâu lỗ: Một loại rắn nhỏ, sống ở ao hồ, chuyên rình bắt gà con.
Trâu, Lỗ còn có nghĩa là nước Trâu quê của Mạnh Tử và nước Lỗ quê của Khổng Tử.
- Hổ mang: Rắn độc có thói quen ngẩn cao đầu, bạnh da cổ để đe dọa kẻ địch.
Đây là bài thơ ngụ ngôn, lấy đề tài “Rắn” để khuyên trẻ việc học hành.

Ở NHÀ CÔ (Hồi ký)



Tôi có cô ruột, gọi là cô Tham, vợ ông Tham tri Đinh Xuân Trạc ở làng Thọ Linh, xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tham tri là chức quan dưới chức Thượng thư thời Nhà Nguyễn. Tôi chưa đến Thọ Linh bao giờ nên không muốn đi, hơn nữa ở với cậu ruột quen rồi, ngại đi nơi khác. Cả nhà thấy tôi không thích đi nên không ép. Sau đó, nhân một hôm có cô tôi về làm giỗ cho mẹ tôi, chú Ấm, bế tôi ra phía sau nhà nói nhỏ với tôi: “Lên cô Tham sẽ được gặp cậu”, cậu tức là cha tôi. Chú Ấm phải bế tôi ra sau nhà nói thầm, vì lúc đó cha tôi đang tham gia kháng chiến, lại giử chức gì đó quan trọng nên phải hết sức bí mật. Nghe chú Ấm nói vậy tôi reo lên: Cháu đi ngay cháu đi ngay. Chú Ấm vội lấy tay bịt miệng tôi lại. Tên thực chú tôi là Kỳ, nhưng là con quan nên vẫn được gọi là Ấm.
Chiều hôm đó tôi cùng cô Tham và vài người giúp việc dẫn tôi lên Thọ Linh. Đến nơi thì trời đã tối mịt. Nhà cô tôi to cao, là cái nhà lầu bề thế nhất vùng. Nghe nói dượng tôi xây khi đang làm tham tri. Ăn uống xong tôi đi ngủ ngay. Tôi ngủ trên một cái phản gụ rộng. Đến khoảng nửa đêm thì có người lay dậy. Tôi mở mắt: “ Cậu!”. Tôi sướng quá thét lên, rồi ôm chặt lấy cha khóc nức nở. Cha tôi cũng khóc. Mẹ mất, cha đi kháng chiến ẩn hiện đâu không ai biết. Có anh chị và bà con nhưng tôi vẫn thèm một cái hôn, một chút bế của cha. Cha tôi bế tôi đi tiểu. Lúc đó trời đang mưa to, nước từ mái ngói trút xuống ào ào. Cha tôi bế tôi vào rồi bày cho tôi bài đồng dao “Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy gạo thổi cơm, lấy rơm đun bếp...”. Cha tôi ấp tôi trong lòng. Ông âu yếm kể rất nhiều chuyện. Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Đến sáng, khi tôi tỉnh dậy thì cha tôi đã đi, tôi buồn quá. Cô Tham tôi đưa cho tôi một gói kẹo mè xửng, nói là của cha để lại. Tôi cầm gói kẹo, chẳng thiết gì ăn, nhớ cha quá.
Đinh Xuân Quảng - một số tư liệu qua trang web: http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90inh_Xu%C3%A2n_Qu%E1%BA%A3ng:
Đinh Xuân Quảng là con trai của Tham tri Đinh Xuân Trạc, thôn Thọ Linh huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình. Ông Quảng là một trong những luật sư đầu tiên (1930) của Trường Đại học Luật khoa Hanoi,  là thẩm phán Việt Nam đầu tiên trong ngành tư pháp. Ông thuộc nhóm trí thức công giáo đấu tranh chống chế độ thực dân của Pháp, giành độc lập cho Việt Nam bằng đường lối hòa bình. Có một thời gian ông phải sang Tàu để hoạt động chính trị, vì ở trong nước sợ cọng sản ám hại. Sau năm 1954 ông ở hoạt động chính trị trong chế độ Sài Gòn.

Thứ Tư, 6 tháng 2, 2013

QUÊ HƯƠNG NGUYỄN HÀM NINH



Gặp gỡ mặn ngọt

Ở miền Trung nước mặn thường không xâm nhập sâu vào nội địa như miền Nam. Bởi vì sông miền Trung có độ dốc lớn. Ví dụ, ở sông Gianh nước mặn chỉ vào đến Phù Hóa, cách của biển chỉ 10 -15 cây số. Trong khi đó, vào mùa khô, nước mặn sông Tiền Giang có thể xâm nhập đến Mỹ Tho, cách cửa Đại gần 50 cây số. Đặc điểm chung của các con sông miền Trung là rất hung dữ về mùa mưa lũ. Nơi đây đồng bằng hẹp, tỷ lệ rừng núi đất dốc lớn, hể mưa to là có lũ lụt. Hầu như năm nào cũng có lũ lụt miền Trung. Mưa tiểu mãn vào cuối tháng 5 dương lịch thường không lớn, ít khi gây lũ lụt. Ngược lại, đó là một nguồn lợi lớn mà ông trời ban tặng cho người dân nơi này.

 Đặc sản chắt chắt

Hàng năm, sau các cơn mưa tiểu mãn. Dòng nước ngọt của Rào Nậy hối hả từ thượng nguồn về, đến xã Phù Hóa huyện Tuyên Hóa thì gặp nước mặn. Do nồng độ muối cao, tất cả các hạt keo lơ lững trong phù sa bị phá hủy. Các chất dinh dưỡng lắng đọng xuống đáy sông. Sau dó một thời gian ngắn, độ nửa tuần trăng, hàng tỷ con chắt chắt xuất hiện dưới đáy sông. Người ta ví chắt chắt như là những đứa con ra đời sau cuộc hoan lạc thắm thiết giữa nàng nước mặn từ biển lên và chàng trai nước ngọt từ rừng núi xuống. Chắt chắt giống hệt con hến, nhưng kích thước bé như hạt gạo. Nó thuộc loại nhuyễn thể hai mãnh võ, có tên khoa học là Bivalvia. Vào lúc này người dân Phù Hóa và các vùng lân cận ra sông khai thác. Chắt chắt thường sống trong vùng nước lợ. Một số nơi khác cũng có chắt chắt, ví dụ như ở làng Mai Xá, xã Gio Mai, huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị,nơi gặp gỡ của sông Thạch hãn và sông Hiếu.

 Chế biến chắt chắt

Chắt chắt khai thác dưới đáy sông lên còn dính nhiều bùn. Trước hết là làm sạch, bằng cách cho vào rỗ, dùng chân đạp rồi đãi trong nước sông. Sau đó chắt chắt vào nồi, đun lửa nhỏ. Khi hai mãnh vỏ vừa tách ra, người ta lấy đũa khuấy cho ruột tách ra khỏi vỏ. Phần ruột này, tiếng địa phương ở Mai Xá Quảng Trị gọi là”mặt”. Khi tất cả chắt trong nồi đã há vỏ, người ta gạn lấy nước luộc để riêng, còn phần cái (vỏ và ruột) mang ra sông đãi (tiếng địa phương gọi là “trơi”) để tách vỏ khỏi ruột.

  Nước luộc chắt chắt rất ngon, thường dùng để nấu canh, nấu cháo. Ruột chắt chắt được nắm lại, rồi dùng để chế biến nhiều món ăn. Món ưa thích nhất là xào mỡ, có thêm gia vị răm hành, hạt tiêu, ớt... rồi ăn với bánh đa nướng, ngon tuyệt vời. Ngày hè, đi đâu về, húp bắt canh chắt chắt, ăn bánh đa kẹp với ruột chắt chắt, tự nhiên cái mệt mỏi tiêu tan đâu hết. Chắt chắt là mó đặc sản nổi tiếng vùng Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

 Hến có tên khoa học là Cyrena sumatrenis, còn chắt chắt thì tôi không rõ. Hiện nay có nhiều tài liệu nói về giá trị dinh dưỡng và tác dụng thuốc của hến, nhưng chắt chắt thì chưa thấy có. Thịt hến có tính hàn, có tác dụng dưỡng âm, lợi tiểu, hoạt tràng, thông khí, mát gan, thanh nhiệt, giải độc. Vỏ hến có tác dụng cố tinh, long đờm, chống nôn, tan hạch. Hến là thực đơn tốt cho người bị bệnh tiểu đường, lại có khả năng bổ trợ cường dương vì cung cấp thêm chất kẽm... Chắt chắt là họ hàng gần gủi với hến, chắc chắn sẽ có người nghiên cứu về tác dụng dinh dương và tác dụng y học của nó.

 Nguyễn Hàm Ninh

Nói đến xã Phù Hóa chắt chắt này không thể không nói đến danh nhân văn hóa của Quảng Bình – ông Nguyễn Hàm Ninh. Ông ra đời tại thôn Phù Ninh, nay là xã Phù Hóa. Sau đó sang ở làng Trung Ái (tức là Trung Thuần, xã Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch ngày nay). Có lẽ ra đời ở thôn Phù Ninh nên ông bố mẹ đặt tên ông là Ninh. Ông nổi tiếng là người hay chữ, là bạn thơ của Cao Bá Quát. Ông đổ thủ khoa (giải nguyên) kỳ thi hương năm Tân Mão (1831), lúc ông 23 tuổi. Cuộc đời ông đầy sóng gió và từng giử nhiều chức khác nhau: dạy quốc học, tri huyện, trước tác viện hàn lâm.... Cuối cùng ông bị bãi chức. Ông để lại nhiều bài thơ chữ Hán và thơ chưa Nôm, trong đó có bài “ Răng cắn lưỡi” :

 Lúc tớ ra đời, chú chữa sinh

Chú sinh khi ấy tớ là anh

Ngọt bùi chẳng nghĩ cùng chung hưởng

Cốt nhục cớ sao nở đứt tình.


Đề tài này do vua Tự Đức ra, khi ngài ăn tiệc răng cắn phải lưỡi. Nguyễn Hàm Ninh muốn mượn đề tài này để nhắc tới chuyện Tự Đức hãm hại Hồng Bảo, người anh cùng cha khác mẹ. Tự Đức khen hay, thưởng mỗi câu một lạng vàng, nhưng thơ có ý châm chọc vua, phạt mỗi chữ một roi về tôi khi quân. Giả sử bây giờ cũng có người phạm tội như Nguyến Hàm Ninh thì bị tội gì.


Trong cuốn “Đại Nam chính biên liệt truyện” do Cao Xuân Dục làm tổng biên có đoạn ghi: Hàm Ninh lấy văn học nổi tiếng. Về thơ văn thời trầm tĩnh, hùng mạnh, khi đè nén, khi phô trương, sở trường là thơ ngũ ngôn, Thương Sơn công (tức Tùng Thiện vương) vẫn thường khen. Nguyễn Hàm Ninh mất ngày 15 tháng 12 năm Đinh Mão, tức là ngày 09 tháng 01 năm 1868.

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

TÁO BẠO TUỔI 14 (Hồi ký)



Đi lấy củi bằng thuyền là một công việc thường xuyên của quê tôi. Củi cần để đun bếp, hoặc làm nhà, làm chuồng bò, chuồng lơn, rào vườn, làm giàn bầu bí... Sau năm 1957 hai anh tôi đều đã ra Hà Nội. Ở nhà chỉ có tôi, mới 14 tuổi, em Hinh 9 tuổi và mẹ dì. Lúc này những việc lớn trong nhà tôi phải đảm nhận. Thông thường việc thuê thuyền đi lấy củi chỉ có người lớn, có kinh nghiệm, mới dám đảm nhận. Hầu hết mọi người, kể cả những ông tráng niên cũng phải đến xin đi nhờ. Còn bé, và chưa biết chèo lái thuyền, nhưng tôi quyết phá luật lệ này.
Việc đầu tiên là tập chèo lái. Tôi thường ra bến sông, thấy thuyền nào bỏ không là nhảy lên tập chèo. Nhiều hôm nhổ hẳn cọc neo thuyền, chèo ra giữa sông. Có lần suýt toi mạng, vì thuyền bị gió tạt không vào được, phải gọi nhờ người đi thuyền qua chèo vào bờ cho. Không nản chí, tôi lại ra tập tiếp. Khoảng bốn năm ngày sau tôi thấy đã vững tay lái. Tự tin vào mình, tôi thuê một chiếc thuyền, hẹn bọn trẻ con trong xóm, cùng lứa tuổi: Lợi, Biền, Diệu... cùng đi chặt củi. Từ nhà vào rừng lấy củi khoảng hơn mười cây số đường sông. Sông Gianh rộng, thường có gió to. Trước đây đã có nhiều trường hợp chìm đò, người chết. Có một lần chuyến đò lấy củi của anh Sinh tôi cũng đã bị chìm, một người chết. Biết vậy nên lúc đầu chúng tôi hơi run. Rất may là chuyến đầu tiên không gặp trở ngại nào. Chúng tôi rất phấn khởi. Bà con trong xóm ai cũng khen. Sau đó một tuần chúng tôi lại thuê thuyền đi tiếp, và lại trở về an toàn. Cứ thế hết chuyến này đến chuyến khác tôi tự thuê thuyền tự chèo lái. Củi chặt về la liêt cả nhà mà chưa hề gặp phải rủi ro nào.
Duy có một lần, chúng tôi vào chặt củi trước, sau đó mới về thuê thuyền đi chở. Nhưng rủi thay, khi chèo thuyền vào thì củi đã bị mất trộm hết.  Tôi và Nguyễn Văn Diệu chèo thuyền về, còn các bạn khác đi đường bộ. Tôi và Diệu chèo thuyền đến một cái cồn gần chợ Mới, thấy trên đó có rất nhiều dưa. Hai anh em cho thuyền cập bến lên hái vài quả ăn cho đở khát. Vừa hái xong dưa, nhìn ra thuyền. Ôi thôi, thuyền đã trôi ra giữa dòng vì quên cắm sào neo thuyền. Thế là hai anh em quẳng cả dưa để bơi ra lấy thuyền. Nước chảy xiết thuyền trôi nhanh, chúng tôi phải đi quá một quảng mới bơi ra đón thuyền.
Diệu sau này làm công tác đoàn trên tỉnh. Năm 1965 phụ trách thanh niên xung phong, hy sinh trên đường Trường Sơn

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

VĂN NGHỆ DU KÍCH (Hồi ký)



Hồi đó tổ chức dân quân du kích xem như xương sống các hoạt động tinh thần của xóm làng. Trong ban chỉ huy du kích có chú Nguyễn Trọng Mai, Cháu Khuyển... Một hôm du kích họp tổng kết công tác rồi diễn văn nghệ. Đặc biệt là kịch, vì kịch dễ diễn, không cần dàn dựng, nói đại khái thế rồi diễn viên lên sân khấu làm. Nội dung kịch muôn thưở giống nhau: Cảnh 1 – Báo động, kẻng gõ phèng phèng, đu kích chạy lố nhố còi huýt inh ỏi, đồng chí A đâu, có, tuân lệnh.... Cảnh 2 - Tây đi lùng bắn súng đì đùng, bắn súng thật hẳn hoi. Cảnh 3 – Du kích giật mìn, bên Tây thằng chết, thằng sống, du kích xông ra, Tây đầu hàng, du kích trói, giải đi. Hạ màn. Khán giả vổ tay rào rào. Đơn giản thế thôi chứ bọn tôi thích đi xem lắm. Ai cũng thích xem. Cứ thấy ta thắng Tây là sướng rồi, chương trình kéo đến gà gáy vẫn xem.
Cháu Trường đóng kịch
Một hôm diễn biến vở kịch không như mong đợi. Diễn viên đóng du kích thường là gầy yếu. Người đóng tây phải to béo mới giống Tây. Anh cháu Trường to béo nhất hội, thường xuyên đóng Tây. Đóng Tây, là làm theo lệnh thôi, chứ tâm lý anh Trường không thích. Lần đó anh xin được đóng du kích. Ban chỉ huy không cho. Anh phải đóng Tây, lên sân khấu với tâm trạng bực bội. Diễn viên đóng du kích là anh Nguyễn Hữu Du còm nhom và anh Mới Khiên cao lêu nghêu, chân như ống que xoi điếu.
Tây thắng ta:
Kịch bắt đầu. cảnh 2 tây đi lùng, anh Trường lên bắn súng đì dùng, bắn súng thật, chỉ thiên, nghe điếc cả tai. Bỗng nhiên mìn nổ. Tiếng nổ thì làm giả, đập vào vật gì đó. Còn khói thì thật, do đốt thuốc súng.  Cảnh 3 – du kích xông lên. Nhưng lần này “Tây” không đầu hàng. Du kích bảo giơ tay lên, anh Cháu Trường không giơ. Du kích túm tay để trói, anh Trường chống cự. Bỗng nhiên anh quật hai anh đóng du kích ngã sóng soài. Cả hai anh du kích bị “Tây” đè bẹp dí , không làm sao vùng dậy được. Khán giả la hét. Ba bốn ông chỉ huy cuống cuồng, thổi còi inh ỏi, chạy lên sân khấu, hợp sức với hai ông du kích mới lật được anh Trường ra. Anh Trường hết cơn nư rồi, đứng dậy, ra khỏi sân khấu. Ông chỉ huy bắt đứng nghiêm, huấn thị. Anh Trường mặt còn bừng bừng nói: Ai bảo không cho tôi đóng du kích.
Từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ được xem một chuyện nào nói Tây thắng ta, từ sách báo đến phim ảnh, kịch... Sau này lớn lên, đi học cũng thế. Chỉ được nghe ta thắng Tây, hoặc sắp thắng. Còn Tây và tư bản đang rẩy chết, sắp chết hết. Nghe sướng lắm, ai cũng thích nói thế, ai cũng thích nghe thế, cả xã hội thích thế. Ai nói ngược lại là phản động, lý lịch có vấn đề... Xem phim Trung Quốc là sướng nhât. Kết thúc phim bao quân nó cũng chết hết, hoặc chỉ còn vài tên xin đâu hàng. Còn quân ta, chỉ bị thương sơ sơ.  Vở kịch anh Trường là vở kịch lịch sử. Lần đâu và cũng là lần duy nhất tôi được xem. Sướng quá.

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

KIẾN THỨC SINH HỌC (Hồi ký)



Đi Ninh Bình ra, đến bến xe Giáp Bát xuống, tôi lên một cái ô tô buyt về Hà Đông. Vắng người, tôi ngồi ngay ghế đầu của dẫy dành cho khách. Xe chuẩn bị chạy, chú bán vé xe buýt đến gần tôi nói: Mời bác xuống dưới kia ngồi cho an toàn. Tôi nói ngồi đây an toàn hơn. Chú ấy đề nghị mấy lần nữa nhưng tôi không đổi chỗ. Mấy ông lái xe thường hay dành chỗ phía trước cho người tr ngồi, để còn nói chuyện. Tôi biết mánh đó rồi.

 Chú bán vé bực bội đến bên cạnh chú lái xe nói gì đó, rồi cả hai cùng bật ra cái câu đầu lưỡi : Đ...mẹ lão già.

Tôi bình tĩnh, đến cạnh hai chú nói: Hai chú nói gì tôi nghe hết rồi. Việc này là giữa tôi và chú, chứ đụng đến mẹ tôi là tôi không chịu. Nhưng thôi, tôi chỉ nói về chuyện học hành của hai chú thôi. Theo tôi kiến thức sinh học của hai chú là zero. Thầy nào dạy hai chú?.  Các chú nên về ôn lại kiến thức sinh học đi. Nói xong tôi về chỗ ngồi. Hai chú xe buýt liếc nhìn tôi rồi nhìn nhau cười.

Không biết trong chương trình phổ thông có dạy môn này không?

BÀI THƠ PHỚT LỜ (Hồi ký)



Năm 1970 – 1976, ở viện Khoa học kỷ thuật Nông nghiêp có anh Thanh Cảnh hay làm thơ. Anh thường làm thơ tức cảnh, văn nghệ cho vui. Dạo đó trong viện này có anh Trần Quang Thuyết, đang nghiên cứu sản xuất bèo dâu để bón cho lúa. Một đề tài rất hay. Ông Bùi Huy Đáp thường đến thăm phòng anh. Sau đó anh Thuyết lại nghiên cứu cây cốt khí, một loại cây cải tạo đất vùng đồi, vừa là phân xanh, vừa chống xói mòn. Đang làm bèo dâu, nay lại lên đồi làm cốt khí, anh Thuyết được anh Cảnh tặng ngay một bài thơ:


Năm xưa anh Thuyết lộn bèo

Năm nay anh Thuyết lại leo lên đồi

Anh đi cả viện bồi hồi

Sợ rằng anh lại lộn đồi về không.

 Anh Thuyết nghe xong nói: Thế nào tao cũng cho mày một trận. Nói thế thôi chứ chẳng thấy trận nào cả, hai ông lại rít thuốc lào với nhau suốt ngoài quán bà Béo.

Viện Khoa học kỷ thuật nông nghiệp lúc đó có anh Hoàng, phó tiến sỹ, mới về nước. Cũng là dân văn vẻ, lá lay ra phết. Vợ chồng anh cùng ở trong khu tập thể với chúng tôi. Ông Hoàng có chuyện léng phéng gì hay sao mà, đang đêm bà vợ la ầm lên. Sợ hàng xóm biết chuyện, anh Hoàng vội quỳ trước mặt vợ: Lạy em, đừng làm ầm lên.

Hồi đó các phòng ở tập thể ngăn cách nhau bằng cót. Vợ chồng ngủ với nhau, ban đêm không dám quậy, sợ hàng xóm nghi làm chuyện chi “bất chính”. Vì thế, chuyện của anh Hoàng chẳng giấu được ai. Sáng hôm sau anh Cảnh có ngay tác phẩm mới:

 Ngày xưa lạy phật lạy trời

Ngày nay lạy vợ, chuyện đời lai hy.

Có cô Hằng, mới về viện, cũng bị anh Cảnh làm thơ. Cô Hằng đang trẻ, xinh, mới ở Liên xô về. Bơ sữa vẫn còn dính da nên trắng trẻo, hấp dẫn lắm, đến bữa ăn ai cũng ngó. Cô Hằng nghiên cứu đề tài chống nẩy mầm ở khoai tây. Anh Cảnh có thơ tặng người đẹp:

          Trông ngoài bì bạch trắng ngần

          Khoai tây thì đã mọc mầm còn đâu

Anh Cảnh còn có thơ cho cô Quy, cũng hay không kém bài trên đây. Cô Quy học đại học Tổng hợp mới ra trường, về công tác cùng anh Đài, cùng nghiên cứu về vi sinh vật. Anh Đài khoe với mọi người đã tìm được vi sinh tổng hợp “bê đui”, tức là vi ta min B12. Anh Cảnh có ngay thơ tặng anh Đài:

          Anh Đài tổng hợp bê đui

          Đến khi mất điện, bê đùi cô Quy.

Cứ thế, hầu như hôm nào anh Cảnh cũng có thơ cho một ai đó. Nghe thơ, bọn con trai thì cười xòa, còn đám chị em thì không hào hứng lắm. Chị Ngọc Anh, làm ở thư viện, nghe chị em bàn tán chuyện làm thơ của anh Cảnh, đã nghĩ ra được một bài...

         Một hôm, giữa buổi ăn cơm ở bếp tập thể, anh Cảnh đang đọc thơ, nói cười vui vẻ. Chị Ngọc Anh nói: Cảnh có thích mình họa lại không. Anh cảnh nói ngay: Rất hân hạnh. Chị Ngọc Anh đọc luôn:

 Đồn rằng anh Cảnh hay thơ

          Chị em ta cứ phớt lờ như không.

 Anh Cảnh đỏ mặt, chẳng nói gì. Từ đấy dân trong viện ít được nghe thơ của anh.