Translate

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

RỔ HÀNH



Năm 1957, tôi trở lại trường học, vào lớp 3, do thầy Trực chủ nhiệm. Thầy với tôi có một kỷ niệm khó quên. Nói đúng hơn là tôi khó quên, còn ông ấy dễ quên, không muốn nhắc lại, không muốn nhìn thấy tôi. Ông Trực học hết lớp 5, đi học thêm gì đó rồi dạy cấp 1.

Trong thời gian cải cách ruộng đất, nhà tôi bị chúng nó bao vây triệt để. Chúng cấm người trong nhà giao tiếp với ai bên ngoài, cấm người bên ngoài liên hệ với gia đình tôi. Lúc đó tôi là người bé trong nhà. Chị Cúc nghĩ rằng tôi có thể ít bị bọn cải cách ruộng đất để ý, nên bảo tôi đi bán hành. Nhà không còn rổ đựng hành, phải dùng cái lồng bàn. Tôi đang bê hành đi về phía chợ Mới, đến giữa cánh đồng Hòa Ninh thì gặp anh nông dân Trực. Trực bảo tôi mày con địa chủ đi phân tán tài sản rồi cướp rỗ hành của tôi. Tôi xin mãi hắn không cho. Tôi về kể lại, cả nhà khóc, vì sáng hôm đó nhịn đói.

Đến năm 1957, tôi đi học lớp 3 trở lại. Thật quá đen đủi, kẻ cắp gặp bà già. Đấy là nói bóng thôi, chứ tôi không phải bà già, “thầy” lại là kẻ cướp chứ không phải kẻ cắp. Học với Trực, nhưng tôi cứ ấm ức, tôi luôn bị điểm kém. Trực luôn tìm sơ hở của tôi. Có lần Trực định đuổi tôi, không muốn tôi học ở trường này, Trực ngại sự hiện diện của tôi. Tôi thì cố giử kín chuyện rỗ hành, nhưng nhiều lúc cũng không giấu nổi. Nhiều hôm bực quá, nghĩ lại chuyện cũ càng bực, tôi thét lên “trả rổ hành cho em”. Trực nghe, vội lẫn đi nơi khác. 

Thật buồn cười, những con người ăn cướp như Trực lại được mấy ổng cho đi làm thầy. Tôi nghĩ: Chắc rồi “Thầy ra thầy  trò ra trò”. Câu hỏi đó cứ theo tôi, từ lúc học cấp 1 cho đến lúc có học vị cao, cho đến khi bước lên khán đài nhận những phần thưởng và danh hiệu cao quý của khoa học công nghệ, của khoa học nhân văn.

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

THÙNG NƯỚC TỰ GIÁC



      Khoảng sau năm 73, có phong trào văn hóa mới: Ta vì mọi người, mọi người vì ta. Một trong những điều thực thi đó là: Thùng nước tự giác. Dạo đó, ở ngã ba Đuôi Cá Hà Nội, có một thùng.
       Thùng nước tự giác làm bằng tôn, dung tích khoảng 50 lít, có cái vòi lấy nước ra. Trong thùng là nước đun sôi để nguội. Nắp thùng được vít chặt và khóa vào thùng. Một cái cốc nhôm bé, được xích vào quai thùng bằng xích sắt. Phía trên thùng có một cái hộp tôn, nắp khóa, dùng để cho tiền vào. Phía ngoài hộp có dòng chữ: Uống nước xong bỏ tiền vào hộp. Toàn bộ thùng và cá phụ kiện trên được cố định vào một cái giá sắt. Giá sắt được chôn chặt xuống đất.
      Như tôi vừa mô tả ở trên, có lẽ chẳng một ai dám nghĩ đến chuyện lấy cắp thứ gì đó ở thùng nước tự giác. Sợ mất cắp, người thực thi chủ trương phải xích, khóa, chôn chặt.... nhưng họ lại nghĩ rằng người uống nước sẽ “tự giác” cho tiền vào hộp. Một lối tư duy ấu trĩ vô cùng. Trong tác phẩm THƠ NGỤ NGÔN – tập 3 của tôi, có bài thơ như sau:

Để khoe làng nước ta đây
Văn minh lịch sự hơn Tây, lẽ thường
Nên chi góc phố ngã đường
Nước dùng tự giác, từng thùng mới tinh
Uống xong tiền trả do mình
Bỏ vào cái hộp dễ nhìn phía trên
Chén con, khi uống nâng lên
Nhớ rồi để xuống, chớ nên đeo người
Chén con không thể nào rời
Bởi vì được xích vào nơi giá thùng
Chén con còn sợ người dùng
Tiền mong tự giác, thằng khùng mới tin

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

GÁNH THUÊ (Truyện hồi ký)

      Học hết lớp 7, nghỉ hè, tôi rủ Dụng con ông Lãng, cháu ông Hương Hạp và chú Chỉ con thím Rõi, vợ hai ông Hương Hạp xuống Ba Đồn tìm việc làm. Theo vai vế trong họ, Dụng gọi tôi bằng bác, Chỉ gọi tôi bằng anh. Chúng tôi tìm được việc gánh cát sỏi từ bờ sông vào công trường. Sau khi về nhà chuẩn bị quang gánh, ba anh em bác cháu xuống Ba Đồn, tìm nhà trọ rồi ra nhận việc.
       Bác phụ trách công trường dẫn chúng tôi ra bờ sông. Ở đó có nhiều đống cát, sỏi được vén thành hình khối vuông thành sắc cạnh. Đang thời kỳ xây dựng XHCN nên vật liệu xây dựng cần rất nhiều. Bác phụ trách chỉ cho chúng tôi một đống cát và một đống sỏi.  Bác ấy đo thể tích hai đống, ghi ghi chép chép rồi ghi tên chúng tôi vào sổ. Bác bảo: Các cháu gánh hai đống này vào công trường, khi nào hết thì báo cho bác, bác ra kiểm tra rồi giao tiền.
      Từ bờ sông vào công trường khoảng 500 mét. Sau khi gánh một buổi, chúng tôi tính, nếu gánh hết hai đống đó phải mất 5 ngày. Ngày đầu còn sung sức, sang ngày thứ hai chúng tôi bắt đầu thấy mệt. Mệt nên sinh lười. Tôi nghĩ ra một kế...
       Tối hôm đó tôi rủ Dụng và Chỉ đi tắm. Lúc đi tôi còn bảo mang đi mỗi đứa một cái rổ. Hai bạn kia hỏi để làm gì. Tôi bảo để xúc cá. Ra đến bến sông, tôi bảo không tắm ở bến thường tắm, mà lại gần bến tập kết cát sỏi đá, ở đó có cái cầu, nhảy cho sướng. Vừa xuống nước tôi nói ngay âm mưu của mình: Xúc cát sỏi đổ xuống sông.  
       Bây giờ Dụng và Chỉ mới hiểu ý định của tôi: Đổ bớt cát sỏi xuống sông cho đỡ gánh. Bởi vì người ta chỉ kiểm tra đã hết đống hay chưa, chứ không phải đo lượng cát gánh vào trong đó. Lúc đầu hai bạn kia còn sợ, chần chừ. Tôi đi làm luôn. Mặc kệ. Cuối cùng chúng phải theo tôi. Ba đứa hì hục một chập lâu, khoảng một nữa đống cát sỏi đã bị đổ xuống sông. Chỗ còn lại ngày mai lại gánh tiếp để họ khỏi nghi ngờ. Ngày hôm thứ ba chúng tôi gánh đến tầm 4 giờ chiều thì xong. Ngày hôm thứ tư lên báo với bác quản lý. Bác ấy ra kiểm tra rồi dẫn chúng tôi về nhận tiền.
       Hôm thứ năm chúng tôi đang chuẩn bị xin nhận thêm việc thì thấy bạn Phạm Thế Hùng đến báo tôi trên nhà nhắn tin xuống, phải về ngay. Té ra Dì tôi nhắn về để đi dân công thuê cho anh Hộ ở tận chân núi Ba Rền. Câu chuyện này bạn đọc xem cho vui, chứ chẳng học tập được gì. Người khôn của khó rồi. Những kẻ ngây ngô như ông phụ trách công trường ngày ấy không còn đất dung thân nữa.

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013

TRỘM MÍA (Hồi ký)



      Sau khi thi đỗ vào cấp 3, tôi vào học ở thị xã Đồng Hới, cách nhà 40 cây số. Đồng Hới được mệnh danh là thành phố Hoa hồng, là nơi gắn bó với cuộc đời thi sỹ Hàn Mạc Tử, nơi có cửa biển Nhật Lệ hữu tình:
 Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
(Nguyễn Du)
       Vào thời đó, muốn đi vào Đồng Hới, chúng tôi phải xuống Ba Đồn, đi ô tô hàng hoặc xuống quốc lộ 1A xin xe bộ đội đi vào. Lúc đi ra, hôm nào có tiền thì đi ô tô, hôm không có phải đi bộ, đi từ tối, sáng sớm đến nhà. Vất vả vậy nên ít khi về nhà. Tiền ăn học, anh Sinh gửi cho tôi từ Hà Nội về, qua bưu điện.
       Một hôm tôi và anh Trần Duy Tiến rủ nhau đi bộ về nhà. Anh Tiến lớn hơn tôi hai tuổi. Đi được khoảng 10 cây số, đến vùng Chánh Hòa,  thì khát nước quá, nhìn hai bên đường thấy có mía, đã gần thu hoạch. Tôi bàn với anh Tiến bẻ một cây ăn cho đỡ khát. Hai anh em dừng lại, bước xuống ruộng, chưa bẻ được mía thì có người hô hoán ”trộm mía, trộm mía”. Chúng tôi vọt lên bờ bỏ chạy. Có một người, cầm cái gậy đuổi theo. Lúc đầu ông ta chạy rất nhanh. Vừa đuổi ông ta vừa quát: Chạy đằng trời, chuyến này chúng mày chết với ông. Chúng tôi tăng tốc.
       Chạy được khoảng hơn cây số, ông ta có vẻ mệt lắm rồi. Từ thái độ kẻ thắng ông ta chuyển sang cầu khẩn: Hai anh ăn trộm ơi, đứng lại cho em được nhờ, hai anh ăn trộm ơi... . Một lúc sau, ông ta van xin như khóc: Hai anh ăn trộm ơi, thương nhà em với, không thì nhà em khổ lắm. Chúng tôi cứ chạy, người kia cứ đuổi theo, lại cầu khẩn: Hai anh ơi thương nhà em với, họ sẽ trừ hết công điểm nhà em mất, em mệt lắm rồi không chạy được nữa... Chúng tôi nhìn lại, trong đêm có trăng sáng mờ mờ, thấy người kia cũng gầy yếu, hơn nữa chúng tôi có hai người, bên kia chỉ có một. Tôi và anh Tiến quyết định dừng lại.
        Đến gần chúng tôi, ông ta vừa thở hỗ hển vừa nói: Hợp tác giao cho em canh gác ruộng, nếu để mất mía sẽ bị trừ công điểm, rồi khẩn khoản: Hai anh trộm mía ơi, mời hai anh vào trong sân hợp tác một tý rồi hai anh lại đi, không việc gì hết. Hai anh vào, tôi báo đã bắt được trộm, họ không trừ công điểm của tôi.
Nói thực, nếu ông ta có tài nói thuyết phục như Obama, chúng tôi cũng chẳng ngu mà vào đó. Cuối cùng anh Tiến đưa cho ông ta ít tiền. Thấy ông ta cầm tiền, chần chừ, chúng tôi đi luôn. Không thấy ông ta đuổi theo nữa.
       Từ cổ chí kim, chưa bao giờ xảy ra chuyện cầu khẩn kẻ trộm đứng lại để bắt. Cũng may cho ông ta, gặp được kẻ trộm có văn hóa.

RANG NGÔ (Hồi ký)



      Hồi học ở Đồng Hới, ba đưa chúng tôi, gồm tôi, anh Tiến và anh Diệp, trọ chung một nhà. Nhà bà chủ chỉ có hai mẹ con, đứa bé khoảng 10 tuổi. Một buổi chiều học ôn bài xong thấy đói bụng, chúng tôi rủ nhau rang ngô ăn. Ngô thì nhà chủ có nhiều, còn thiếu cát rang. Định đi lấy cát nhưng hơi xa, đứa nào cũng lười, đùn nhau. Bỗng nhiên tôi nghĩ ra là, người ta hay dùng để cho vào lư hương. Thế là chúng tôi lấy một cái lư hương trên bàn thờ, đổ ra lấy cát rang ngô. Xong xuôi, sàng lấy ngô, còn cát lại đổ vào lư hương, cắm chân hương lên như cũ.
       Đến gần tối bà chủ về, vào bàn thờ thắp hương. Bà phát hiện thấy mày ngô trong lư hương, biết ngay chúng tôi đã dùng cát này để rang ngô. Bà khóc rồi nằm sụp lạy trước bàn thờ, cầu xin tổ tiên ông bà tha tội. Sau đó bà vội vàng bắt một con gà sống choai hơn một cân làm thịt, nấu xôi, làm một mâm mang lên cúng để xin tổ tiên ông bà tha tội cho. Thần linh hay tổ tiên ông bà cũng như người trần, không thể nói chay được, xong xôi mới rồi việc.
       Cúng xong, bà dọn mâm ra ở nhà dưới, bảo thằng con của bà lên mời chúng tôi xuống ăn. Lúc đầu chúng tôi chối, ngại quá, nhưng bà mời thật. Bà nói đây là lộc của tổ tiên ông bà các chú ăn để các vị xá tội cho. Cuối cùng ba anh em chúng tôi phải ngồi ăn cùng gia đình. Lúc đầu còn ăn dè, làm khách, nhưng ngon miệng quá, không cưỡng lại được, chúng tôi chén hết sạch, còn mấy cái xương, gặm nốt, ngon quá.

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

KIM LOẠI DẪN LẠNH



      Hôm đó trời rất rét, lớp 7 chúng tôi học bài kim loại với thầy Hồng. Trong phần tính chất, thầy giảng rất kỹ về tính dẫn nhiệt dẫn điện.

       Chép bài xong, cả lớp gập vở lại để trả lời câu hỏi. Thầy cầm thanh đồng đến gần một bạn ngồi bàn đầu, tên là Huê. Thầy áp thanh đồng vào má bạn Huê rồi hỏi, em có cảm giác thế nào nói to cho cả lớp nghe. Bạn Huê trả lời em thấy lạnh lắm ạ. Thầy quay ra phía lớp hỏi: Đây là thanh kim loại đồng, kim loại dẫn nhiệt tốt, tại sao áp vào má lại thấy lạnh, em nào biết.
       Cả lớp đang ngẩn tò te suy nghĩ, còn bạn Vĩnh người cảnh Dương giơ tay ngay. Thầy cho nói. Vĩnh bảo: Thưa thầy kim loại dẫn nhiệt cũng tốt mà dẫn lạnh cũng tốt ạ. Cả lớp cười như nắc nẻ. Thầy Hồng phì cười đánh rơi cả thanh đồng xuống đất.  Ông bạn Bạn Vĩnh bây giờ ở thành phố Huế, buôn bán bất động sản và tranh ảnh, giàu lắm.

Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

THƯƠNG ÔNG TƯ QUÁ (Hồi ký)



Sau mấy ngày làm quần quật, chúng tôi nghĩ xã hơi vài hôm. Chủ nhật, 8 giờ sáng, tôi và Đam vừa đi ăn sáng về, đã thấy trước cửa một đống dừa và một can rượu hơn hai lít. Hai thứ này do anh Hải từ bên Bình An mang đến. Dừa là để anh Tám (tức là tôi) dùng, vì nghe nói anh Tám thích uống nước dừa. Rượu là để nhậu. Anh Đam ra chợ Thủ Thừa, mang về hai con ngan và một súc thịt bò. Thịt bò ở đây rẻ hơn thịt lợn. Khoảng 9 giờ thì chín người đã có mặt. Họ xúm vào làm thịt ngan, xào nấu thịt bò...
Đến mười giờ, thức ăn đã sẵn sàng. Hai chiếc chiếu được trãi ra. Anh Đam hò hét mọi người đi gọi cậu Năm, chú Chín, ông Tư... Cuối cùng điểm mặt vẫn thấy thiếu ông Tư Tước cạnh nhà. Người đi gọi chạy về báo ông Tư vào Bo Bo chưa về. Cả hội bắt đầu khai cuộc. Bên ngoài là một vòng tròn mười hai người, giữa là đủ thứ, nồi cháo, ba đĩa thịt xào, bánh đa, rau sống, ớt.... Hai chai la vi rượu và một cái chén, là linh hồn của bữa nhậu, đã được trang trọng đặt giữa chiếu. Một cái chén uống lần lượt, chứ không phải mỗi người mỗi chén như ngoài Bắc.
Trước hết anh Đam rót một chén rượu đầy, nói mấy câu vừa vui vừa trịnh trọng rồi đưa chén cho tôi: Mời anh Tám uống với em trước. Có hai cách uống rượu với nhau: hoặc là đưa cả chén rượu đầy cho người mình mời, sau đó người được mời “trăm phần trăm” xong, lại rót đầy chén mời lại; hoặc là người được mời dùng năm mươi phần trăm, sau đó mời lại người mời mình. Cứ thế cái chén đi vòng quanh theo quỷ đạo qua 12 người. Vòng người vừa uống vừa gắp mồi mời nhau. Cái bát của tôi lúc nào cũng đầy ụ vì nhiều người gắp bỏ vào.
Câu chuyện vòng người mỗi lúc một rôm rã, nhất là khi có hơi men. Một chốc sau, can rượu đã hết. Anh Đam bảo anh Hải chạy ra chợ mua thêm. Chẳng mấy chốc lại một can rượu hai lít mang về. Khoảng hơn 12 giờ có vài ông xỉn, bò lăn ra chiếu, nhai rau sống. Tôi là người được anh em “quý mến” nhất nên cũng choáng váng đầu, định cáo nhưng không được. Một lúc sau, tôi không thể nào chịu được nữa, người như đang bay trên mây, mắt hoa... Tôi  nằm lăn ra chiếu nhai rau sống. Khi hết nửa can rượu thứ hai thì có năm anh lăn ra chiếu, có vài anh nôn. Cả vòng người chỉ còn lại anh Đam và bốn chú trẻ tuổi. Buổi nhậu đến đấy xem như kết thúc. Nhiều người bắt đầu ngáy. Cái âm thanh là lạ đó dồn dập nối nhau, giữa một trưa đầu mùa hè.
 Một lúc sau mọi người đã tỉnh lại, rữa mặt mũi, chuẩn bị dọn mâm bát... thì bất chợt nghe ai nghêu ngao bên ngoài:
Long An anh dũng kiên cường
Anh đi đánh giặc, mượn xuồng không cho
Đánh giặc mượn xuồng không cho
Anh đi uống rượu em cho mượn xuồng.
Mọi người nhìn ra. A ông Tư đã về, tay xách một con rùa khoảng một cân. Ông Tư quẳng rùa vào nhà anh Đam, bảo là thằng Ba Nhịn cho tao, mày thịt mà làm mồi. Mọi người gọi ông Tư vào. Ông nói tao vừa nhậu, về nhà rồi sang. Mọi người không chịu, lôi ông Tư vào bằng được. Thế là cả hội lại hỳ hục thịt rùa. Trong chóng vánh, hai đĩa thịt rùa được bày ra. Ông Tư, cậu Năm, chú Chín và cả hội lại ngồi vào thành vòng. Một can rượu lại được mua về. Cái chén lại tiếp tục cuộc hành trình vòng quanh chiếu. Can rượu mới hết một nữa thì nhiều chiến sỹ đã gục tại trận. Người thì nhai rau sống, người thì nôn.
Đợt này tôi cố tránh, uống rất ít, tuy thế chỉ một lúc sau là nằm bất động. Khi tôi tỉnh dậy trời đã tối, mọi người về hết. Tôi ngủ tiếp. Đến nữa đêm tôi thấy tức ngực khó thở, vội gọi anh Đam dậy mở hết cửa. Cửa đã được mở toang hết nhưng cái ngực tôi vẫn nặng chịch, khó thở quá. Vợ chồng anh Đam bắt đầu lo, vội lau mặt, xoa ngực, xoa dầu cho tôi, nhưng tôi vẫn không đỡ, khó thở vô cùng.. Anh Đam vội vàng đi gọi anh Hùng. Sau đó hai anh lai tôi ra bệnh xá huyện Thủ Thừa.
Sau khi nghe anh Đam kể lại hiện tượng, ông bác sỹ tại chức đặt ống nghe. Vừa nghe xong ông ta nói ngay: Nhồi máu cơ tim. Anh Đam hỏi lại ông ta vẫn trả lời: Nhồi máu cơ tim. Ông giục lên bệnh viện tỉnh ngay, nếu chậm sẽ không cứu được. Anh Đam và Hùng tái mặt, vội vàng đi gọi lái xe. Lái xe đến, ra xe, lại quên chìa khóa xe. Anh Hùng phải đưa về lấy. Cả ba người lên xe, khởi động mãi xe mới nổ máy. Với bao nhiêu sự cố, nhưng cuối cùng tôi vẫn đến được bệnh viện thị xã Tân An. Lúc đó khoảng một giờ sáng.
Hùng và Đam đưa tôi vào phòng cấp cứu. Ông bác sỹ mắt nhắm mắt mở đeo ống nghe. Nghe xong ông ta đặt điện cực lên ngực, lên chân tôi, để đo điện tim. Sau khi chuẩn bị xong, ông ta bật công tắc. Máy không chạy. Bác sỹ bật đi bật lại công tắc mấy lần, máy vẫn bất động. Ông bực mình đập “bộp bộp” mấy cái vào máy, vẫn thế. Cả ba người vội vàng cho tôi sang một phòng khác có máy điện tim. Bác sỹ vừa cài các đầu dò vào người tôi, thì nghe “ tạch” một cái. Cả phòng tối om. Mất điện. Tôi cố hết sức, nói với Hùng và Đam trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu: Thôi thế là hết rồi. Đây là Long An, con rồng sẽ an nghỉ ở đây, hai em cố gắng hoàn thành nốt công việc cho anh, có gì khó khăn thì gọi cho anh Đặng Vũ Minh viện trưởng viện Hóa ở Hà Nội.
 Hùng và Đam rơm rớm nước mắt. Hùng mếu máo đang định nói gì thì căn phòng vụt sáng. Có điện rồi. Hùng và Đam thở phào một cái, rồi mĩm cười : Anh yên tâm. Vừa lúc đó bác sỹ đến, tiếp tục chạy điện tim. Xong xuôi ông ấy bảo: Không sao, nhẹ thôi. Ông ta tiêm cho tôi một mũi ở tay rồi cho ngậm một viên thuốc. Một lúc sau tôi thấy đỡ chút ít. Tôi bảo Hùng và Đam anh đỡ rồi. Hai chú thay nhau, vừa trông tôi, vừa nghỉ ở giường bên cạnh. Đến sáng thì tôi đã đỡ nhiều. Hùng Và Đam cũng đã ngủ được một ít.
Khoảng 7 giờ sáng Hùng và Đam đang định thay nhau trông tôi để về nhà thì anh Bào đến báo: Ông Tư đi rồi. Anh Đam hỏi lại: Đi đâu. Anh Bào mếu máo: Ông Tư chết rồi, hôm qua uống rượu xong ông về năm ngủ trên võng rồi không dậy nữa. Hùng, Đam và tôi tái mặt, sáu giọt nước mắt lăn trên gò má ba người. Thương ông Tư quá.