Translate

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

ĐƯỜNG ĐẾN CHÍN RỒNG, NXB VĂN HỌC 2014 (trích đoạn)


Chăn trâu nhà người

Mới bước vào đợt giảm tô cải cách ruộng đất, nhà Tám đã bị bao vây. Lúa khoai gia đình Tám trồng bị thu hết sạch. Cả nhà không có cái ăn. Mẹ kế Tám phải lặn lội đi vay. Vay từng bơ gạo, từng rổ khoai. Cha Tám cũng đi vay. Sau này ông cụ mất, nhiều người còn nhắc lại món nợ, nhưng họ thương cha Tám, chỉ nhắc cho biết. Mỗi bữa ăn anh em Tám chỉ được khoảng dăm ba củ khoai. Cha Tám cũng ăn khoai. Họa hoằn lắm mới có tí gạo thì dành cho cha Tám và em út. Đói quá, ai cũng xanh xao vàng vọt, chết đến nơi rồi. Tám thương cha, thương anh chị, thương em, nhưng không làm gì để giúp gia đình được. Cuối cùng Tám quyết định đi ở làm thuê.
    
 Một hôm Tám lên chợ Mới ở thôn Minh Lệ, cách nhà Tám năm cây số, hỏi xem có ai thuê ở không. Tám được biết ở Phú Mỹ, có thể có người cần thuê trẻ con ở chăn trâu. Tám gặp cô Tư, vốn là người hàng xóm lấy chồng ở Phú Mỹ, đang bán sắn ở chợ Mới. Cô ấy bảo cứ vào ở tạm nhà cô rồi tìm người thuê. Tám theo cô Tư, lên đò dọc, vào Phú Mỹ. Tám lên đò nhưng cứ dán mắt về phía chợ Mới, về phía xóm làng mờ xa kia. Tám bắt đầu cảm thấy nhớ nhà. Không biết bao giờ cho hết cơ cực để Tám trở về với gia đình, với người cha thân yêu.
         
Đến Phú Mỹ, Tám ở tạm nhà cô Tư. Vài hôm sau có người thuê. Đó là anh Khản, con rể ông Ân. Anh Khản mới lấy vợ, ở riêng, mới có một đứa bé, neo người nên phải thuê đứa ở. Công việc của Tám là chăn trâu và dắt trâu kéo gỗ từ rừng sâu về nhà. Từ đó Tám không có thông tin gì ở nhà nữa. Một hôm có anh Hoàng, em anh Khản đến chơi, hỏi hoàn cảnh nhà Tám. Anh ấy hỏi, ông cụ có bị giam không. Tám nói không. Anh nói, đấy là mới giảm tô thôi, tiếp theo đây họ làm mạnh lắm. Anh Hoàng ở ngoài Hà Tĩnh mới về nên anh biết.

Tám bỏ đi, cả nhà đi tìm. Một hôm Tám thấy mẹ kế đến nhà anh Khản, không biết làm sao bà biết Tám ở đây. Bà cho biết cha Tám đã bị bắt giam. Tám thương cha, Tám khóc.

Núi cao gặp hổ

Như thường lệ, hôm đó Tám dắt trâu theo ông chủ vào rừng sâu. Sau khi ông chủ và mấy người lớn đốn xong gỗ, chuẩn bị dây đeo ách cho trâu, Tám dắt trâu đến quàng ách vào để kéo gỗ về. Giữa rừng đại ngàn, đi sâu khoảng vài ba cây số là có cây cao to vài chục mét, có cây người ôm không xuể. Cây gỗ Tám sắp cho trâu kéo, dài hơn chục mét, đường kính khoảng hơn ba gang tay người lớn.

Tám dắt trâu đi theo đường kéo gỗ. Đường này do kéo gỗ lâu ngày và do nước mưa xói nên bị bào mòn xuống thành cái rãnh, sâu ngang vai người. Tám cầm dây thừng buộc mũi trâu đi trước, đằng sau là con trâu kéo khúc gỗ to dài. Mỗi khi qua chỗ dốc, khúc gỗ lăn bịch bịch theo chân trâu. Đi được một quãng thì đến khu vực nhiều bụi rậm. Đang đi, bỗng nhiên Tám nghe tiếng “uỵch” một cái rồi ngất luôn, không còn biết gì nữa. Khi Tám tĩnh lại thấy mình đang nằm trên bãi cỏ, máu tràn đầy mặt mũi, quần áo bị chà xát rách bươm và bê bết máu. Toàn thân Tám bị bong cợp hết da, máu ứa đầy người. Chung quanh là mấy người lớn. Họ lấy thuốc lào và lông d. đắp vào vết lõm trên trán Tám. Tám sờ lên trán mới biết trán mình bị móp xuống, một bên vết thương xương nhô ra. Con trâu đã giẫm lên đầu Tám. Mấy người lớn nói, thủng trán rồi. Họ vội vàng cõng Tám về nhà. Sau đó Tám lại ngất vì máu ra quá nhiều. Mọi người cứ nghĩ Tám chết rồi. Sáng hôm sau Tám mới tỉnh dậy, sờ lại vết thương mới biết trán bị móp, xương trán bị biến dạng, một khối xương nhô ra. Thỉnh thoảng ông chủ lại sờ người Tám rồi bôi đủ thứ vào trán mà ông cho là thuốc: thuốc lào, lông cu ly, lá cây rừng, lông d...

Ngày hôm sau Tám nghe người lớn kể lại, lúc Tám dắt trâu qua chỗ rậm, họ cách xa Tám, quãng này rất vắng. Tự nhiên họ nghe có tiếng sột soạt mạnh gần chỗ Tám dắt trâu, rồi tiếng trâu và gỗ lao đi huỵch huỵch. Họ chạy tới, thấy Tám nằm giữa vũng máu, người bị kẹt giữa đường rãnh. Thì ra lúc trâu qua đường vắng, một con hổ đã liều mạng xông ra, trâu vùng lên, nó bỏ chạy, trâu lao về phía trước, đạp lên đầu Tám, tiếp theo là khúc gỗ nặng hàng tấn chà qua người Tám. Cả thi thể Tám vo viên lại.

Mấy ngày sau vết thương rất đau, ngày một thêm đau, nhưng Tám thấy đầu óc bình thường, không có triệu chứng xấu gì về tư duy và trí nhớ. Mấy ngày sau vết thương bắt đầu se dần. Từ đấy Tám cứ xem như mình đã một lần chết. Sau này Tám còn gặp nhiều chuyện nguy hiểm tính mạng nữa, nhưng rồi qua, nhiều lúc do sự nhanh trí, nhưng đa phần là do may mắn. Tám có cảm giác, có một vị thần linh nào đó, đang ngày đêm phù hộ cho Tám. Tám thầm cản ơn ngài.

Sau khoảng một tuần, Tám lại đi chăn trâu như thường lệ. Thấy Tám, bọn trẻ cùng chăn trâu xúm lại. Chúng nó bảo, nghe nói mày bị lòi óc ra mà không chết. Đứa thì bảo, nghe nói khi mày bị trâu giẫm người ta thấy óc mày lõng bõng, người ta phải lấy áo bịt lại để khỏi trào ra. Có đứa nói như một cụ già: Số mày hổ vồ trâu dẫm mà không chết, chắc rồi sống lâu lắm. Mười ba tuổi đầu, phải nếm cái đắng cay nhất của cuộc sống. Sau này, nhờ có chí học hành, Tám có bằng cấp, có vài cống hiến có giá trị cho đời, nhưng cứ nghĩ đến những ngày gian khổ đó, Tám càng căm hờn bọn lãnh đạo.



Giành lại nhà

Trong cải cách ruộng đất gia đình Tám bị chiếm hết nhà cửa. Mấy anh chị em Tám bị đuổi ra một cái chòi tranh dột nát. Không giường chiếu, không nồi niêu bát đũa. Áo quần rách bươm, lạnh thấu xương, đêm thường không ngủ được, phải nhặt lá và que khô nhóm lửa sưởi. Không còn gì để ăn. Hai anh Tám phải vào tận rừng nhặt hạt dẻ hoặc gánh củi bán.

Bố mẹ Tám có hai cái nhà, một cái nhà lớn và một cái nhà bếp rộng. Nhà lớn ba gian hai hồi, kiểu cổ, cột lim, các vì kèo đều chạm trổ, lợp ngói nam. Nhà lớn vẫn nguyên còn nhà ngang bị chia cho nông dân Trọng, đã bị dỡ mang về xóm dưới. Nền đất nhà ngang còn lại chúng cho mẹ con mụ Ròn dựng nhà. Nhà nậy có hai hộ ở: Vợ chồng lão Tấu và vợ chồng lão Thường. Lão Tấu là bộ đội phục viên. Vợ lão là con một bà làm nghề buôn thúng bán mẹt ở xóm trên. Lão Thường con ông Thùy. Bố ông Thùy là con nuôi cố nội Tám.

Sau khi “sửa sai” một thời gian, hai anh lớn của Tám đều ra Hà Nội học. Ở nhà, chỉ còn Tám, mới hơn mười ba tuổi, em út tám tuổi và chị Năm. Không còn ai làm chỗ dựa, mọi việc lúc đó Tám tự quyết định tất cả. Chị Năm lớn, nhưng con gái, với lại chị cũng buồn vì phải xa con. Đã vào thời kỳ sữa sai, dư luận thương tiếc cha Tám ngày một xôn xao trong thôn xóm. Trước những dư luận đó, Tám hỏi ý kiến của Chị Năm, thím Ấm và một vài nhà thân tín. Họ đều đồng ý với quyết định của Tám là giành lại nhà.

Tám chuẩn bị một cái dao bầu đã mài sáng loáng. Nhân hôm hai lão đàn ông đi vắng, Tám vác dao xông sang, đi sau Tám là chị Năm, ôm theo một đống áo quần, chăn chiếu. Vào nhà, Tám đứng ngay ở gian giữa, cúi mặt vào trong, vái ba vái rồi quay mặt ra cầm dao bầu giương cao, như sẵn sàng xông trận. Chị Năm để chiếc chiếu xuống nền nhà, ngay gian giữa rồi trãi ra. Chị quỳ xuống quay đầu vào phía trong nhà vái như Tám. Mặt Tám đỏ lừ, giá như lúc đó có kẻ nào ngăn cản, Tám sẵn sàng chém. Tám cứ đứng như thế. Chị Năm lần lượt mang các thứ từ bên nhà thím Ấm sang: nồi niêu, bát đũa.... Tối đó Chị Năm, Tám và em út ở gian giữa. Hai gia đình nông dân ở hai bên. Mấy hôm đầu hai gia đình Tấu và Thường có vẻ khó chịu, nhưng sau đó xịu dần và đối xử bình thường với chị em Tám. Khoảng một tháng sau thì gia đình Tấu rút lui. Lúc rút Tấu lấy luôn cái rương, vốn là của nhà Tám từ trước. Tám sơ ý không giử lại.


Sau khi gia đình Tấu rút lui, gia đình Thường cũng bắt đầu tính kế rút. Sau hơn hai tháng thì chị em Tám lấy lại hoàn toàn nhà lớn. Sau khi lấy lại được nhà lớn rồi, Tám định đuổi mẹ con mụ Ròn. Nhưng mẹ con mụ không còn nơi nào để ở. Cứ thế mụ lần lữa mãi. Hơn nữa, mụ có chút bà con, nên Tám không nỡ mạnh tay. Sau khi có toàn bộ nhà, mẹ kế Tám cũng về. Cả nhà quét dọn, mời ông Cửu lên làm lễ, mời ông bà về. Một thời gian sau chị Tư về quê. Chồng chị ấy có nói, sao không để họ trả, mà lại đi giành. Tám rất bực, vì, may mà Tám giành lại nhà, nếu không nhà cũng mất hoặc bị phá hỏng hết.

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

CẤM VIẾT BẬY


Năm 1961 tôi học lớp 8, trọ ở một nhà dân đằng sau ty Văn hóa của tỉnh Quảng Bình. Thỉnh thoảng hay ra phòng hội trường của ty này chơi. Vì ở đây có ông Dương Tử Giang, trưởng ty, là bạn của cha tôi. Ở phòng hội trường này có tờ báo tường rất to và đẹp. Thời đó, ở các cơ quan trường học hay có báo tường. Vừa xem lướt qua tôi để ý ngay một bài báo của ông Dương Tử Giang. Ông mô tả lại hiện tượng ở một cánh cửa nhà xí: Trên cùng cùng cánh của có chữ ghép đôi:
“ Toàn + Lan”.
Dưới đó có ngay một dòng:
“Cấm viết bậy”
Hôm sau, dưới đó  lại có một dòng:
“Cấm viết bậy ở đây”
Cứ thế, cả cánh cửa chi chít dòng “Cấm viết bậy”, “Cấm viết bậy ở đây”...”Thằng nào viết bậy là mất lich sự”, “Tiên sư thằng nào viết bậy”...
Cuối bài báo ông Giang viết:
“Những thằng viết bậy luôn dạy người khác đừng viết bậy”.
Ông Dương Tử Giang lấy một hình ảnh có thực, và có vẻ như là chuyện trẻ con,  để nói đến một hiện tượng cũng rất có thực, có vẻ như là chuyện của người lớn, của mấy thằng to đầu, cái loại vừa “to đầu” vừa “nhỏ dái”, tức là cái loại người vừa dại vừa khôn.

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

RỔ HÀNH



Năm 1957, tôi trở lại trường học, vào lớp 3, do thầy Trực chủ nhiệm. Thầy với tôi có một kỷ niệm khó quên. Nói đúng hơn là tôi khó quên, còn ông ấy dễ quên, không muốn nhắc lại, không muốn nhìn thấy tôi. Ông Trực học hết lớp 5, đi học thêm gì đó rồi dạy cấp 1.

Trong thời gian cải cách ruộng đất, nhà tôi bị chúng nó bao vây triệt để. Chúng cấm người trong nhà giao tiếp với ai bên ngoài, cấm người bên ngoài liên hệ với gia đình tôi. Lúc đó tôi là người bé trong nhà. Chị Cúc nghĩ rằng tôi có thể ít bị bọn cải cách ruộng đất để ý, nên bảo tôi đi bán hành. Nhà không còn rổ đựng hành, phải dùng cái lồng bàn. Tôi đang bê hành đi về phía chợ Mới, đến giữa cánh đồng Hòa Ninh thì gặp anh nông dân Trực. Trực bảo tôi mày con địa chủ đi phân tán tài sản rồi cướp rỗ hành của tôi. Tôi xin mãi hắn không cho. Tôi về kể lại, cả nhà khóc, vì sáng hôm đó nhịn đói.

Đến năm 1957, tôi đi học lớp 3 trở lại. Thật quá đen đủi, kẻ cắp gặp bà già. Đấy là nói bóng thôi, chứ tôi không phải bà già, “thầy” lại là kẻ cướp chứ không phải kẻ cắp. Học với Trực, nhưng tôi cứ ấm ức, tôi luôn bị điểm kém. Trực luôn tìm sơ hở của tôi. Có lần Trực định đuổi tôi, không muốn tôi học ở trường này, Trực ngại sự hiện diện của tôi. Tôi thì cố giử kín chuyện rỗ hành, nhưng nhiều lúc cũng không giấu nổi. Nhiều hôm bực quá, nghĩ lại chuyện cũ càng bực, tôi thét lên “trả rổ hành cho em”. Trực nghe, vội lẫn đi nơi khác. 

Thật buồn cười, những con người ăn cướp như Trực lại được mấy ổng cho đi làm thầy. Tôi nghĩ: Chắc rồi “Thầy ra thầy  trò ra trò”. Câu hỏi đó cứ theo tôi, từ lúc học cấp 1 cho đến lúc có học vị cao, cho đến khi bước lên khán đài nhận những phần thưởng và danh hiệu cao quý của khoa học công nghệ, của khoa học nhân văn.

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

THÙNG NƯỚC TỰ GIÁC



      Khoảng sau năm 73, có phong trào văn hóa mới: Ta vì mọi người, mọi người vì ta. Một trong những điều thực thi đó là: Thùng nước tự giác. Dạo đó, ở ngã ba Đuôi Cá Hà Nội, có một thùng.
       Thùng nước tự giác làm bằng tôn, dung tích khoảng 50 lít, có cái vòi lấy nước ra. Trong thùng là nước đun sôi để nguội. Nắp thùng được vít chặt và khóa vào thùng. Một cái cốc nhôm bé, được xích vào quai thùng bằng xích sắt. Phía trên thùng có một cái hộp tôn, nắp khóa, dùng để cho tiền vào. Phía ngoài hộp có dòng chữ: Uống nước xong bỏ tiền vào hộp. Toàn bộ thùng và cá phụ kiện trên được cố định vào một cái giá sắt. Giá sắt được chôn chặt xuống đất.
      Như tôi vừa mô tả ở trên, có lẽ chẳng một ai dám nghĩ đến chuyện lấy cắp thứ gì đó ở thùng nước tự giác. Sợ mất cắp, người thực thi chủ trương phải xích, khóa, chôn chặt.... nhưng họ lại nghĩ rằng người uống nước sẽ “tự giác” cho tiền vào hộp. Một lối tư duy ấu trĩ vô cùng. Trong tác phẩm THƠ NGỤ NGÔN – tập 3 của tôi, có bài thơ như sau:

Để khoe làng nước ta đây
Văn minh lịch sự hơn Tây, lẽ thường
Nên chi góc phố ngã đường
Nước dùng tự giác, từng thùng mới tinh
Uống xong tiền trả do mình
Bỏ vào cái hộp dễ nhìn phía trên
Chén con, khi uống nâng lên
Nhớ rồi để xuống, chớ nên đeo người
Chén con không thể nào rời
Bởi vì được xích vào nơi giá thùng
Chén con còn sợ người dùng
Tiền mong tự giác, thằng khùng mới tin

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

GÁNH THUÊ (Truyện hồi ký)

      Học hết lớp 7, nghỉ hè, tôi rủ Dụng con ông Lãng, cháu ông Hương Hạp và chú Chỉ con thím Rõi, vợ hai ông Hương Hạp xuống Ba Đồn tìm việc làm. Theo vai vế trong họ, Dụng gọi tôi bằng bác, Chỉ gọi tôi bằng anh. Chúng tôi tìm được việc gánh cát sỏi từ bờ sông vào công trường. Sau khi về nhà chuẩn bị quang gánh, ba anh em bác cháu xuống Ba Đồn, tìm nhà trọ rồi ra nhận việc.
       Bác phụ trách công trường dẫn chúng tôi ra bờ sông. Ở đó có nhiều đống cát, sỏi được vén thành hình khối vuông thành sắc cạnh. Đang thời kỳ xây dựng XHCN nên vật liệu xây dựng cần rất nhiều. Bác phụ trách chỉ cho chúng tôi một đống cát và một đống sỏi.  Bác ấy đo thể tích hai đống, ghi ghi chép chép rồi ghi tên chúng tôi vào sổ. Bác bảo: Các cháu gánh hai đống này vào công trường, khi nào hết thì báo cho bác, bác ra kiểm tra rồi giao tiền.
      Từ bờ sông vào công trường khoảng 500 mét. Sau khi gánh một buổi, chúng tôi tính, nếu gánh hết hai đống đó phải mất 5 ngày. Ngày đầu còn sung sức, sang ngày thứ hai chúng tôi bắt đầu thấy mệt. Mệt nên sinh lười. Tôi nghĩ ra một kế...
       Tối hôm đó tôi rủ Dụng và Chỉ đi tắm. Lúc đi tôi còn bảo mang đi mỗi đứa một cái rổ. Hai bạn kia hỏi để làm gì. Tôi bảo để xúc cá. Ra đến bến sông, tôi bảo không tắm ở bến thường tắm, mà lại gần bến tập kết cát sỏi đá, ở đó có cái cầu, nhảy cho sướng. Vừa xuống nước tôi nói ngay âm mưu của mình: Xúc cát sỏi đổ xuống sông.  
       Bây giờ Dụng và Chỉ mới hiểu ý định của tôi: Đổ bớt cát sỏi xuống sông cho đỡ gánh. Bởi vì người ta chỉ kiểm tra đã hết đống hay chưa, chứ không phải đo lượng cát gánh vào trong đó. Lúc đầu hai bạn kia còn sợ, chần chừ. Tôi đi làm luôn. Mặc kệ. Cuối cùng chúng phải theo tôi. Ba đứa hì hục một chập lâu, khoảng một nữa đống cát sỏi đã bị đổ xuống sông. Chỗ còn lại ngày mai lại gánh tiếp để họ khỏi nghi ngờ. Ngày hôm thứ ba chúng tôi gánh đến tầm 4 giờ chiều thì xong. Ngày hôm thứ tư lên báo với bác quản lý. Bác ấy ra kiểm tra rồi dẫn chúng tôi về nhận tiền.
       Hôm thứ năm chúng tôi đang chuẩn bị xin nhận thêm việc thì thấy bạn Phạm Thế Hùng đến báo tôi trên nhà nhắn tin xuống, phải về ngay. Té ra Dì tôi nhắn về để đi dân công thuê cho anh Hộ ở tận chân núi Ba Rền. Câu chuyện này bạn đọc xem cho vui, chứ chẳng học tập được gì. Người khôn của khó rồi. Những kẻ ngây ngô như ông phụ trách công trường ngày ấy không còn đất dung thân nữa.

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013

TRỘM MÍA (Hồi ký)



      Sau khi thi đỗ vào cấp 3, tôi vào học ở thị xã Đồng Hới, cách nhà 40 cây số. Đồng Hới được mệnh danh là thành phố Hoa hồng, là nơi gắn bó với cuộc đời thi sỹ Hàn Mạc Tử, nơi có cửa biển Nhật Lệ hữu tình:
 Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
(Nguyễn Du)
       Vào thời đó, muốn đi vào Đồng Hới, chúng tôi phải xuống Ba Đồn, đi ô tô hàng hoặc xuống quốc lộ 1A xin xe bộ đội đi vào. Lúc đi ra, hôm nào có tiền thì đi ô tô, hôm không có phải đi bộ, đi từ tối, sáng sớm đến nhà. Vất vả vậy nên ít khi về nhà. Tiền ăn học, anh Sinh gửi cho tôi từ Hà Nội về, qua bưu điện.
       Một hôm tôi và anh Trần Duy Tiến rủ nhau đi bộ về nhà. Anh Tiến lớn hơn tôi hai tuổi. Đi được khoảng 10 cây số, đến vùng Chánh Hòa,  thì khát nước quá, nhìn hai bên đường thấy có mía, đã gần thu hoạch. Tôi bàn với anh Tiến bẻ một cây ăn cho đỡ khát. Hai anh em dừng lại, bước xuống ruộng, chưa bẻ được mía thì có người hô hoán ”trộm mía, trộm mía”. Chúng tôi vọt lên bờ bỏ chạy. Có một người, cầm cái gậy đuổi theo. Lúc đầu ông ta chạy rất nhanh. Vừa đuổi ông ta vừa quát: Chạy đằng trời, chuyến này chúng mày chết với ông. Chúng tôi tăng tốc.
       Chạy được khoảng hơn cây số, ông ta có vẻ mệt lắm rồi. Từ thái độ kẻ thắng ông ta chuyển sang cầu khẩn: Hai anh ăn trộm ơi, đứng lại cho em được nhờ, hai anh ăn trộm ơi... . Một lúc sau, ông ta van xin như khóc: Hai anh ăn trộm ơi, thương nhà em với, không thì nhà em khổ lắm. Chúng tôi cứ chạy, người kia cứ đuổi theo, lại cầu khẩn: Hai anh ơi thương nhà em với, họ sẽ trừ hết công điểm nhà em mất, em mệt lắm rồi không chạy được nữa... Chúng tôi nhìn lại, trong đêm có trăng sáng mờ mờ, thấy người kia cũng gầy yếu, hơn nữa chúng tôi có hai người, bên kia chỉ có một. Tôi và anh Tiến quyết định dừng lại.
        Đến gần chúng tôi, ông ta vừa thở hỗ hển vừa nói: Hợp tác giao cho em canh gác ruộng, nếu để mất mía sẽ bị trừ công điểm, rồi khẩn khoản: Hai anh trộm mía ơi, mời hai anh vào trong sân hợp tác một tý rồi hai anh lại đi, không việc gì hết. Hai anh vào, tôi báo đã bắt được trộm, họ không trừ công điểm của tôi.
Nói thực, nếu ông ta có tài nói thuyết phục như Obama, chúng tôi cũng chẳng ngu mà vào đó. Cuối cùng anh Tiến đưa cho ông ta ít tiền. Thấy ông ta cầm tiền, chần chừ, chúng tôi đi luôn. Không thấy ông ta đuổi theo nữa.
       Từ cổ chí kim, chưa bao giờ xảy ra chuyện cầu khẩn kẻ trộm đứng lại để bắt. Cũng may cho ông ta, gặp được kẻ trộm có văn hóa.

RANG NGÔ (Hồi ký)



      Hồi học ở Đồng Hới, ba đưa chúng tôi, gồm tôi, anh Tiến và anh Diệp, trọ chung một nhà. Nhà bà chủ chỉ có hai mẹ con, đứa bé khoảng 10 tuổi. Một buổi chiều học ôn bài xong thấy đói bụng, chúng tôi rủ nhau rang ngô ăn. Ngô thì nhà chủ có nhiều, còn thiếu cát rang. Định đi lấy cát nhưng hơi xa, đứa nào cũng lười, đùn nhau. Bỗng nhiên tôi nghĩ ra là, người ta hay dùng để cho vào lư hương. Thế là chúng tôi lấy một cái lư hương trên bàn thờ, đổ ra lấy cát rang ngô. Xong xuôi, sàng lấy ngô, còn cát lại đổ vào lư hương, cắm chân hương lên như cũ.
       Đến gần tối bà chủ về, vào bàn thờ thắp hương. Bà phát hiện thấy mày ngô trong lư hương, biết ngay chúng tôi đã dùng cát này để rang ngô. Bà khóc rồi nằm sụp lạy trước bàn thờ, cầu xin tổ tiên ông bà tha tội. Sau đó bà vội vàng bắt một con gà sống choai hơn một cân làm thịt, nấu xôi, làm một mâm mang lên cúng để xin tổ tiên ông bà tha tội cho. Thần linh hay tổ tiên ông bà cũng như người trần, không thể nói chay được, xong xôi mới rồi việc.
       Cúng xong, bà dọn mâm ra ở nhà dưới, bảo thằng con của bà lên mời chúng tôi xuống ăn. Lúc đầu chúng tôi chối, ngại quá, nhưng bà mời thật. Bà nói đây là lộc của tổ tiên ông bà các chú ăn để các vị xá tội cho. Cuối cùng ba anh em chúng tôi phải ngồi ăn cùng gia đình. Lúc đầu còn ăn dè, làm khách, nhưng ngon miệng quá, không cưỡng lại được, chúng tôi chén hết sạch, còn mấy cái xương, gặm nốt, ngon quá.